Bài viết về Xuân

Thứ hai - 09/01/2017 10:18
Đón Xuân Đinh Dậu, quyết tâm mến Chúa, “xin vâng” với Đức Mẹ
Mừng Tết Gia Đình, thành thật yêu người, tín thác vào Chúa Trời
anh hoa mai vang dep ruc ro khi tet dep xuan ve  (7)
anh hoa mai vang dep ruc ro khi tet dep xuan ve (7)

XUÂN MẸ

TRẦM THIÊN THU (Học trò của Nhạc sư Hùng Lân)

***

Năm cũ qua, năm mới đến; mùa Đông đi, mùa Xuân về. Xuân là Tết. Mọi thứ đều khác lạ, có nhiều cảm xúc và có nhiều điều để nói – cả đời thường và tâm linh…
Không biết ngẫu nhiên hay cố ý mà khi kết thúc ca khúc “Mùa Xuân Của Mẹ”, NS Trịnh Lâm Ngân đã xác định: “Chỉ bên Mẹ là Mùa Xuân thôi!”. Một cảm nhận thật chính xác và khôn tả. Xuân Mẹ thật tuyệt vời! Vâng, Mẹ rất diệu kỳ, Mẹ không nói, nhưng ánh mắt Mẹ thăm thẳm vẫn luôn chứa đựng nhiều thứ mà con cái không bao giờ hiểu hết. Khi con cái hiểu được thì… đã muộn rồi!
Người đời cảm nhận được Tình Mẫu Tử tuyệt vời, có Mẹ là có Mùa Xuân nên vẫn ca tụng Mẹ là Mùa Xuân. Với người Công giáo, chúng ta có một Người-Mẹ-của-các-người-mẹ là Đức Maria, một trinh nữ tuyệt vời với biết bao danh xưng cao trọng.
Với tâm tình của người con dành cho Mẹ trong ngày Xuân, cố Nhạc sư Hùng Lân đã bày tỏ lòng hiếu thảo thánh đức qua bài Thánh ca “Mẹ Là Mùa Xuân”. Ông sáng tác bài Thánh ca này năm 1946, cấu trúc là hai phần đơn giản. Phần 1 được viết ở âm thể Thứ để nói lên lòng tha thiết tôn kính dành cho Đức Mẹ, nhưng giai điệu không sầu thảm mà vẫn “sáng”; phần 2 được viết ở âm thể Trưởng thể hiện niềm hy vọng ngời sáng.
Ông là người chủ trương viết giản dị để mang tính cộng đồng, thế nhưng ca từ của ông luôn đầy chất thơ rất “đắt” và vần điệu rất chỉnh, cả tiết tấu và giai điệu đều đơn giản nhưng luôn mượt mà. Ông quả là bậc thầy về cả ca từ và giai điệu. Tôi thấy mình có chút may mắn được thụ giáo ông một thời gian, dù tôi chỉ là một trong vài học trò cuối cùng của cuộc đời ông – một người âm thầm theo Chúa và phục vụ Giáo hội bằng con đường âm nhạc.
Mở đầu, ông ca tụng Đức Mẹ là những gì tốt lành nhất: “Ôi Maria! Mẹ là Mùa Xuân Ánh Sáng, Mẹ là Cửa Son Đền Vàng, Bến Lành vào Quê Bình An”. Rồi ông chân nhận thân phận phàm nhân: “Ôi Maria! Dẫu rằng đời con lầm than, bóng tội mờ che trần gian, sức hèn con ngã nhiều phen”. Kiếp người lận đận sớm chiều, tội lỗi ngập đầu, hèn yếu vô cùng. Muốn vươn lên mà cứ xập xụi mãi, Mẹ ơi!
Thân phận con người là thế, nhưng không vì vậy mà thất vọng, ngược lại vẫn một lòng tin tưởng và trông cậy và cố gắng hướng thượng: “Nhưng con luôn trông đến ngày tàn phai mùa Đông, ánh vàng Sự Rỗi reo mừng, hoa trái đau thương lựng hương. Ban ơn cho con, biết tìm ngọt trong sầu than, biết tìm mạnh trong nguy nàn, biết có Xuân trên Đông tàn”.
Ca từ đầy chất cầu nguyện và tích cực: Tìm NGỌT trong SẦU THAN, tìm MẠNH trong NGUY NÀN (nguy nan), vì biết chắc có mùa Xuân tươi đẹp trên mùa Đông tàn tạ. Hy vọng là đó, mong sống trọn kiếp nhân sinh cho hết cuộc lữ hành trần gian này.
Đức tin bừng sáng, đức Cậy vững vàng, và đức Mến nồng nàn. Có Chúa là có Mẹ, có Mẹ là có Chúa. Đó là Mùa Xuân tuyệt diệu, ai cũng khao khát khôn nguôi, hy vọng dạt dào: “Mẹ là Mùa Xuân đem sức thiêng cho cõi lòng, Mẹ là Mùa Xuân muôn kiếp muôn dân đợi trông, Mẹ là Mùa Xuân bất diệt trên cõi hằng sống, giúp con vượt đời, trông về cõi phúc vô song”.

Vâng, Mẹ ơi, chúng con chỉ mong có vậy thôi: Cõi Phúc Vô Song. Mẹ là nguồn cậy trông, Mẹ tuyệt mỹ, chúng con nhờ Mẹ để đến với Chúa Giêsu Con yêu Dấu của mẹ, và là Đấng Cứu Độ của chúng ta. Những sự hy sinh, những sự chịu đựng, và cả những lỗi lầm khốn nạn của chúng ta nữa, đó là Quà Xuân chúng ta có thể chân thành Tết Mẹ. Xin Mẹ thương nhận mà tha thứ và che chở chúng ta hôm nay và suốt đời.
Và còn rất nhiều “món quà” khác chúng ta cũng phải tết Mẹ hôm nay và suốt cuộc sống trần gian này…
Đức Mẹ Maria là Người Nữ Can Trường (Cn 31), là Người Nữ trong sách Khải Huyền (Kh 12) tiến vào cuộc chiến vĩ đại chống con rồng hoả ngục, là người không sợ hãi gì, như đạo quân sắp hàng vào trận, mang hàng ngàn thuẫn chắn (Dc 4:4; Dc 6:4).
Trong lời nguyện tại lễ bế mạc Năm Thánh kính Đức Mẹ, ngày 15-8-1988, Thánh GH Gioan Phaolô II đã nói: “Đức Mẹ là Người Nữ mảnh khảnh mà bền vững vô cùng làm cho lòng chúng ta vui mừng vững vàng vì chắc chắn rằng Con Rồng ấy không mạnh hơn Bà Đẹp tuyệt vời. Chúng ta hãy luôn bám chặt lấy Mẹ”.
Trên Thánh Giá, Chúa Giêsu nói với Thánh Gioan: “Đây là Mẹ con” (Ga 19:27). Điều đó xác định Đức Mẹ là Mẹ của Giáo hội, Mẹ của chúng ta. Quả thật, chúng ta vô cùng hạnh phúc, vì được làm con Mẹ và được Tết Mẹ trong ngày tết cổ truyền của dân tộc Việt Nam, và tin tưởng sẽ được sum họp với Chúa và Mẹ trên Cõi Trường Sinh.
Chắc chắn rằng chẳng có mùa Xuân nào tuyệt vời bằng Mùa Xuân Mẹ. Vâng Xuân Mẹ vô cùng kỳ diệu!
Lạy Mẹ là Mùa Xuân Ánh Sáng, xin giúp chúng con mến Chúa và yêu người, đồng thời luôn biết “xin vâng” như Mẹ trong mọi hoàn cảnh. Xin cảm tạ Mẹ đã ban bao ơn lành hồn xác cho chúng con trong năm qua, xin tha thứ những thiếu sót của chúng con. Xin giúp chúng con biết siêng năng lần hạt Mân Côi hằng ngày, luôn thể hiện yêu thương và khiêm nhường ngay từ trong ý nghĩ, đúng như Con Chúa đã truyền dạy. Chúng con cầu xin nhân danh Đức Kitô, Thiên Chúa cứu độ của chúng con. Amen.
(*) Hùng Lân (1922-1986) là tác giả những ca khúc nổi tiếng như Hè Về, Khỏe Vì Nước, Việt Nam Minh Châu Trời Đông (đảng ca của Việt Nam Quốc Dân Đảng và Đại Việt Quốc Dân Đảng), Hận Trương Chi, Xóm Nghèo, Non Nước, Em Yêu Ai?, Thằng Tí Sún, Rước Đèn Trung Thu, Ông Ninh Ông Nang,… Ông là giáo sư giảng dạy âm nhạc uy tín và là người khởi xướng dùng Việt ngữ để hát Thánh ca, ông cũng là tác giả đặt lời Việt cho bài “Stille Nacht, Heilige Nacht” (nguyên gốc Đức ngữ, bản Anh ngữ là “Silent Night, Holy Night”) nổi tiếng với tựa đề “Đêm Thánh Vô Cùng”, và nhiều bài Thánh ca phổ biến như Lên Núi Sion, Con Nay Trở Về, Thắp Ngọn nến Hồng, Bài Ca Vạn Vật, Trường Ca Phục Sinh (7 đoạn), Tôi Không Còn Cô Đơn, Dâng Hồn Xác, Một Sợi Tơ Vàng,…
+ Thưởng thức các ca khúc:
1. Mùa Xuân của Mẹ : https://www.youtube.com/watch?v=c2yNtHzS8AI
2. Mẹ Là Mùa Xuân : http://www.youtube.com/watch?v=szQoTkYzNsU
 
 
NHỮNG KIẾP HOA XUÂN
TRẦM THIÊN THU

Con người có nhiều loại người (tốt, xấu), nhiều dáng người (cao, thấp, mập, gầy), nhiều tính người (hiền, dữ), nhiều kiếp người (sướng, khổ, may mắn, bất hạnh),… Và hoa cũng có nhiều loại hoa, với hương sắc khác nhau. Kiếp người đa dạng, thì kiếp hoa cũng vậy, có loại “sống mãi” (hoa bất tử), có loại sớm nở chiều tàn (hoa phù dung),…
Mùa Xuân là mùa “trăm hoa đua nở”. NS Anh Bằng (*) đã viết ca khúc “Những Kiếp Hoa Xuân”, và ông “mượn” những cánh hoa để nói về những kiếp người. Nói đến chữ “kiếp” thì thường có gì đó đượm buồn, có lẽ vì vậy mà ông viết ca khúc này ở âm thể Thứ, có thể đệm đàn bằng điệu Tango. Giai điệu buồn mà lạ, sâu lắng.
Ông đặt mình vào vị trí của một người đang đứng giữa mùa Xuân: “Tôi buồn đứng trông hoa cười, hoa nào duyên không lả lơi, không thẹn thùng trước gió xuân tươi, không đậm đà giữa nắng xuân vui, không say mộng đời?”. Vâng, chắc hẳn hoa nào cũng thế. Cũng vậy, người con gái nào cũng đầy nữ tính, cũng hãnh diện về “nét riêng” của mình. Nàng Kiều có nét của nàng Kiều, bà Trưng có nét của bà Trưng, bà Triệu có nét của bà Triệu, Thị Nở có nét của Thị Nở, chẳng ai giống ai, và “nét riêng” ấy không thể lẫn lộn với ai được.
Nhưng ông nói rất lạ: “Phương trời cố hương xa vời, Xuân về cho hoa tả tơi”. Xuân về mà hoa tả tơi ư? Sao lại khốn khổ thế nhỉ? Đúng thôi, lý do là thế này: “Hoa lạnh lùng sống với đơn côi, chôn cuộc đời khép kín đôi môi”, và vì vậy mà “hoa chẳng còn tươi”. Hoa không còn tươi là hoa héo úa, hoa tàn tạ, vậy là hoa tả tơi rồi!
Đóa hoa đó không là thực vật mà là một con người, một cô gái đang độ xuân thì: “Anh ơi, em là hoa hoa biết nói, giữa tuổi xuân thắm tươi, vẫn không yêu kiếp người”. Một cô gái trẻ mà lại thiếu sức sống, đầy chán nản, không thấy yêu đời. Lý do cũng đơn giản thôi: “Anh đi trong ngày Xuân hay bóng tối, hồn em như chới với, mắt em như lệ rơi”. Ngày Xuân mà không được ở gần người yêu, buồn lắm thôi! Không biết chàng người yêu giờ ra sao, còn cô nàng cảm thấy chới với và chỉ chực khóc. Tội nghiệp cô nàng!
Mùa Xuân về, ngày Tết đến, nhưng cô gái chưa thấy mùa Xuân, chưa cảm nhận được Tết. Cô gái thổ lộ: “Xin mượn tiếng ca u hoài, cung đàn yêu thương người ơi!”. Tiếng ca dù buồn nhưng là cung đàn yêu thương tha thiết của người con gái xuân thì đang yêu, khao khát cháy bỏng. Chính cung thương điệu sầu đó là dấu ấn tình yêu của cô nàng và anh chàng trong thời chiến: “Ghi tình sầu đất nước chia đôi, ghi tình đời những cánh hoa rơi, ghi cả tình tôi”. Cô gái yêu thật, thương thật, và nhớ thật. Cái tương tư có mà như không, vô hình mà như hữu hình, thực tế mà như ảo tưởng. Lạ thật!
Ước gì đừng ai phải cách xa khi tình yêu đã lên ngôi thực sự!
Sách Huấn Ca gọi đời người là “kiếp người khốn khổ”. Có một số câu điển hình:
– Kể từ khi từ lòng mẹ sinh ra cho đến lúc trở về lòng đất mẹ, mang thân phận con người, ai cũng canh cánh bên lòng một nỗi lo, là con cháu Ađam, nợ phong trần đương nhiên phải trả (Hc 40:1).
– Điều không ngừng ám ảnh khiến lòng người sợ hãi âu lo là cứ phải nghĩ rằng mình đang chờ chết. Từ bậc vua chúa trên ngai vinh hiển đến kẻ cùng đinh chân lấm tay bùn, từ người cân đai áo mão đến kẻ khố rách áo ôm, ai cũng đều giận dữ, ghen tương, đều băn khoăn, lo lắng, rồi sợ chết, rồi hận thù cãi cọ (Hc 40:2-4).
– Mọi xác phàm, từ người đến vật, nhưng quân tội lỗi thì gấp bảy lần, không làm sao tránh khỏi: chết chóc và đổ máu, cãi cọ và đâm chém, hoạn nạn, đói kém, đổ nát, tai ương (Hc 40:8-9).
– Rượu và nhạc khiến lòng người phấn khởi, nhưng lòng mến đức khôn ngoan vẫn đáng quý hơn. Tiếng sáo, tiếng đàn khiến giọng hát du dương, nhưng lời nói dịu dàng còn êm tai hơn nữa (Hc 40:20-21).
– Vẻ đẹp và duyên dáng làm người ta thích nhìn, nhưng cánh đồng xanh mướt còn đáng nhìn hơn (Hc 40:22).
– Có anh có em là để giúp nhau khi hoạn nạn, nhưng của bố thí còn trợ giúp đắc lực hơn. Có bạc, có vàng là an tâm vững chí, nhưng được người góp ý còn quý giá hơn (Hc 40:24-25).
– Giàu sang và sức mạnh khiến người ta tin tưởng, nhưng lòng kính sợ Đức Chúa còn trổi vượt hơn. Có lòng kính sợ Đức Chúa thì chẳng thiếu gì. Kính sợ Chúa rồi, không cần phải cầu cứu ai nữa (Hc 40:26).
– Con ơi, đừng đi ăn xin để sống: thà chết còn hơn! (Hc 40:28).
– Kẻ nhìn trộm mâm người khác, có sống cũng kể như chẳng sống ra người. Vì đứa ăn bám làm mình ra nhơ nhớp; còn người hiểu biết và có giáo dục thì sẽ không xử sự như thế. Miệng đứa ăn xin ngọt như mía lùi, nhưng tâm địa hắn thì như lò lửa (Hc 40:29-30).
Thân phận con người “bọt bèo mỏng mảnh, gió thoảng qua, không hẹn ngày về” (Tv 38:79), mẫu số chung của nhân loại là “cất tiếng khóc, tiếng đầu đời của bất cứ một ai” (Kn 7:3). Khổ thật!
Vì thế, chúng ta phải nhận ra mình và cầu xin Thiên Chúa: “Thân phận con khốn khổ nghèo hèn, xin mau đến cùng con, lạy Thiên Chúa! Ngài là Đấng phù trợ, là Đấng giải thoát con, muôn lạy Chúa, xin đừng trì hoãn” (Tv 70:6). Và như thế thì an tâm mà sống, cứ vui Xuân và ăn tết, vì Đức Giêsu luôn đồng hành với chúng ta: “Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28:10).
Xin tạ ơn và chúc tụng Thiên Chúa!

 

Chuyện DƯA HẤU

TRẦM THIÊN THU

[Đăng báo Trái Tim Đức Mẹ, số 469, tháng 1-2017, Dòng Đồng Công xuất bản tại Hoa Kỳ]
Dưa Hấu là loại trái cây quen thuộc với người Việt Nam, nhất là vào những ngày Tết Nguyên Đán. Dưa hấu là loại trái cây “chúa tể” của mùa Hè, thế nhưng người ta vẫn khoái dưa hấu vào mùa Xuân. Dưa hấu chứa nhiều nước (90%), ăn mát, khoái khẩu, nhất là sau khi “làm tí”. Người ta khoái dưa hấu còn “bắt mắt” vì cái mã bề ngoài: Đẹp – xanh vỏ, đỏ lòng.
Một nhà y học nổi tiếng đời Thanh (Trung quốc) đã viết trong cuốn sách “Tùy Tức Cư ẩm Thực Phổ” (thực đơn ăn uống theo tĩnh dưỡng nghỉ ngơi): “Dưa hấu ngọt lạnh, giã rượu, chữa viêm hầu họng, lở miệng, trị độc nhiệt,…”. Có thể thấy tác dụng chữa bệnh nhất định của dưa hấu đối với các chứng phế nhiệt, vị nhiệt, cảm nóng, sốt cao, tâm phiền miệng khát, sưng hầu họng, viêm niêm mạc miệng, đi tiểu nước đỏ, viêm thận phù thũng, say rượu,…
Qua nghiên cứu, y học hiện đại đã chứng minh rằng chất đường, muối, a-xít hữu cơ trong dưa hấu có tác dụng chữa trị viêm thận và làm hạ huyết áp; vì lượng đường thích hợp làm lợi tiểu, lượng muối kali làm tiêu viêm ở thận, chất men trong dưa hấu có khả năng chuyển hóa protein không hòa tan thành protein hòa tan, tăng cường dinh dưỡng cho bệnh nhân viêm thận; loại đường tổng hợp trong dưa hấu còn có tác dụng hạ huyết áp.
Vỏ dưa hấu vị ngọt tính hàn, có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, hạ hỏa, trừ phiền, chữa thấp, lợi tiểu. Vào mùa Thu, khí hậu hanh khô, dễ viêm họng và lở miệng lưỡi, ăn dưa hấu cũng có công hiệu nhất định. Nếu pha chế dưa hấu thành dạng kem dùng ngoài da có thể chữa viêm sưng họng, lở mép rất tốt.
Ngoài ra, hạt dưa hấu có công hiệu làm mát phổi, tan đờm, nhuận tràng, lợi tiêu hóa. Rễ và lá dưa hấu vào mùa Hè có thể chữa chứng tiêu chảy, kiết lỵ.
Tuy dưa hấu là thứ giải khát tốt, nhưng nên lưu ý: Không nên ăn quá nhiều trong một lần, nhất là đối với những người tì vị hư hàn.
Những bài thuốc chữa bệnh bằng dưa hấu:
– Viêm thận: Vỏ dưa hấu, rễ cỏ tranh mỗi thứ 60g, sắc uống.
– Phù thũng: Vỏ dưa hấu, vỏ bí đao, đậu đỏ, phục linh, mỗi loại 30g, sắc uống.
– Cao huyết áp: Vỏ dưa hấu 30g, vỏ bí đao 30 gam, ngưu tất 15g, sắc uống.
– Cảm nóng: Nước ép dưa hấu một cốc to, uống vài lần.
– Đau họng: Xịt kem dưa hấu vào chỗ họng đau.
– Giải rượu: Nước ép dưa hấu một ly to, uống vài lần.
– Tiểu đường: Vỏ dưa hấu 60g, cẩu kỷ tử 15g, thiên hoa phiến 12g, ô mai 10g, sắc uống.
– Kiết lỵ ra máu: Nước ép dưa hấu 1 ly, hòa đường, ngày uống 3 lần.
– Lở loét miệng: Dùng kem dưa hấu bôi.
– Chữa phỏng: Vỏ dưa hấu sấy khô, tán thành bột, trộn dầu mè (vừng) để bôi.
Theo sử sách, dưa hấu vốn có quê hương ở châu Phi. Giống dưa này được đưa sang Trung Quốc từ phía Tây Vực nên người Trung Quốc gọi là “dưa Tây”.
Theo truyền thuyết Việt Nam, chuyện kể rằng…
Vào đời Hùng Vương, ở một vùng quê cách xa kinh đô Phong Châu, có một cậu bé mồ côi, thường theo người lớn đi săn bắn và đánh cá. Năm tám tuổi, cậu bé được lên kinh đô và gặp vua Hùng. Thấy cậu bé thông minh, nhà vua nhận làm con nuôi và đặt tên là Mai An Tiêm.
Lớn lên, An Tiêm rất khỏe mạnh và chăm chỉ làm việc. Vua Hùng cưới vợ cho An Tiêm và cho cả hai vợ chồng đi phá rừng, làm rẫy trồng trọt. Chỉ ít lâu sau, An Tiêm đã dựng được nhà cửa và gặt được nhiều thóc lúa chứa đầy kho.
Thấy thế, bọn người ghen tị tâu nịnh với vua Hùng: “An Tiêm coi thường ơn vua. Hắn cho rằng của cải làm ra đều là nhờ ơn Trời và tài sức của hai vợ chồng hắn với các con”. Vua Hùng nghe tâu thì giận lắm, không cần tìm hiểu thực hư ra sao!
Nhà vua truyền lệnh đày gia đình An Tiêm ra một đảo hoang vắng ở biển Đông. Ngoài lương khô đủ ăn trong vài tháng, không được mang theo gì hết xem còn nhờ Trời vào đâu. Thế là cả gia đình An Tiêm lênh đênh ở giữa biển khơi.
Cuối cùng, thuyền tới một đảo hoang, đầy cát trắng. Ngoài ít lương khô, không có một con dao hoặc một hạt giống gì nữa. Vợ An Tiêm khóc. Chàng an ủi vợ: “Chúng ta là những người có khối óc và đôi tay thì dù gian nan, vất vả mấy cũng vượt qua được”.
Hôm sau, An Tiêm kiếm được cành cây nhọn, liền đào đất xuống thật sâu và thấy nước ngọt để uống. Rồi chàng cùng các con bẻ cành cây, khuân đá xếp lại, làm nơi trú mưa nắng. Vợ chàng xuống ven biển mò được cua, ốc để ăn thêm.
Nhờ kiếm được những viên đá lửa lớn, An Tiêm đánh hai viên đá vào nhau là có lửa để nấu cua, luộc ốc. Một hôm, An Tiêm thấy có con chim trắng ở đâu bay tới, làm rơi hạt đen đen xuống bãi cát trắng. An Tiêm liền đem hạt này trồng thử.
Mấy tháng sau, những hạt ấy mọc thành những cây nhỏ bò lan trên mặt cát. Cây có nhiều trái màu xanh thẫm to bằng đầu người lớn. An Tiêm hái một trái đem về cho cả nhà ăn thấy ruột đỏ mà ngọt, lại có lắm nước. Thế là An Tiêm liền trồng thêm nhiều nữa.
Đến khi dưa có nhiều trái rồi, An Tiêm dùng que nhọn vạch chữ vào, thả xuống biển cho trôi đi khắp nơi. Thuyền buôn qua lại, vớt được trái này, ăn thấy ngon, liền tìm tới đảo, đổi hàng hoá, vải, gạo lấy những trái đó đem đi các nơi bán. Đó là trái dưa hấu, tức là “quả dưa đỏ”.
Tiếng đồn về quả dưa đỏ đến tai vua Hùng. Vua biết tài của An Tiêm nên cho cả gia đình An Tiêm trở lại đất liền. Lần này vua lại phong thưởng cho An Tiêm và khuyên chàng dạy cho mọi người cách trồng dưa. Kể từ đó, nước Văn Lang có thêm loại dưa hấu đỏ vừa để ăn, vừa để bán.
Vua Hùng cho rằng An Tiêm phạm tội “khi quân” nên mới đuổi vợ chồng An Tiêm ra khỏi hoàng cung và đày ải ra hoang đảo.
Hình ảnh này gợi nhớ tới ông bà nguyên tổ, vì nghe theo lời đường mật của con rắn nên họ đã phạm tội bất tuân là ăn trái cấm. Và rồi ông bà đã bị Thiên Chúa đuổi ra khỏi Vườn Đại Đàng.
Lúc đó, Thiên Chúa nguyền rủa con rắn: “Mi đã làm điều đó, nên mi đáng bị nguyền rủa nhất trong mọi loài súc vật và mọi loài dã thú. Mi phải bò bằng bụng, phải ăn bụi đất mọi ngày trong đời mi. Ta sẽ gây mối thù giữa mi và người đàn bà, giữa dòng giống mi và dòng giống người ấy; dòng giống đó sẽ đánh vào đầu mi, và mi sẽ cắn vào gót nó” (St 3:14-15).
Rồi Thiên Chúa nói với bà Eva: “Ta sẽ làm cho ngươi phải cực nhọc thật nhiều khi thai nghén; ngươi sẽ phải cực nhọc lúc sinh con. Ngươi sẽ thèm muốn chồng ngươi, và nó sẽ thống trị ngươi” (St 3:16).
Và Thiên Chúa nói với ông Adam: “Vì ngươi đã nghe lời vợ và ăn trái cây mà Ta đã truyền cho ngươi đừng ăn nó, nên đất đai bị nguyền rủa vì ngươi; ngươi sẽ phải cực nhọc mọi ngày trong đời ngươi, mới kiếm được miếng ăn từ đất mà ra” (St 3:17).
Từ đó, loài người phải chịu kiếp đọa đày, phải “đổ mồ hôi, sôi nước mắt” mà mưu sinh. Đồng thời loài người cũng bị án tử, nghĩa là ai cũng phải có ngày “trở về cát bụi”. Tuy nhiên, ai biết ăn năn và nên hoàn thiện cho đúng Ý Chúa (x. Mt 5:48) thì sẽ được phục chức là làm con của Chúa và được hưởng phúc trường sinh nơi Thiên quốc (x. Mt 25:31-46).

 

 

 

 

 

 

 

 

ĂN TẾT MỘT MÌNH

Mai Nguyên Vũ

28 Tết. Ký túc xá vắng tanh. Các bạn về quê ăn Tết hết rồi. Còn lại vài sinh viên xa nhà không có tiền về xe, đành ở lại ăn Tết một mình. Lê khác hẳn. Quê ở gần đây thôi nhưng không có nhà mà về.
Lê từng có một mái ấm như bao bạn khác. Ba mẹ chung sống hạnh phúc được 19 năm thì chia tay. Hai người chán nhau, cãi nhau rồi đưa nhau ra toà ly dị. Mẹ lấy một ông Mỹ già khụ, thỉnh thoảng gửi tiền về cho hai chị em Lê ăn học. Ba lấy một bà goá trên Bảo Lộc. Ba mẹ đồng ý bán nhà chia đôi. Nhà của Lê bây giờ là ký túc xá. Còn thằng em ở với ba. Lê không thể nào ở với bà dì ghẻ độc ác. Thà ăn Tết một mình còn hơn là bị bả lườm nguýt đến độ không nuốt nổi miếng cơm.
Lê ra đứng ngoài hành lang, lơ mơ ngó xuống phố, xem người ta chộn rộn Tết nhất. Từng gia đình dắt nhau đi sắm Tết. Các em nhỏ xúng xính áo đẹp, chạy lon ton bên cha bên mẹ. Từng cành mai nụ xanh chạy vụt qua, đem xuân đến cho các gia đình.
Ai đó mở bài “ Xuân này con không về”. Giọng nam trầm buồn kể tâm sự chàng trai thời loạn không thể về quê ăn Tết với mẹ:

“Con biết bây giờ mẹ chờ tin con
Khi thấy mai đào nở vàng bên nương.
Năm trước con hẹn đầu xuân sẽ về
Nay én bay đầy trước ngõ
Mà tin con vẫn xa ngàn xa…”
Lê bật khóc. Có lẽ đây là bản nhạc xuân hay nhất, gây xúc động lòng người nhiều nhất. Nếu ai đã từng một lần ăn Tết xa nhà sẽ không thể nào cầm được nước mắt khi nghe tuyệt phẩm này của Trịnh Lâm Ngân. Bài này một thời bị xếp loại “ nhạc vàng”, nhưng đúng là vàng ròng…Lê ngậm ngùi nhớ về gia đình ngày xưa…
Mới 20 Tết mà mẹ đã lo sắm Tết. Mẹ dẫn hai chị em ra chợ, chọn mua những bộ quần áo, giầy dép đẹp nhất. Không khí chợ Tết vui làm sao! Mẹ mua đồ về cho ba gói bánh chưng. Cả nhà hăng hái phụ với ba, suốt cả ngày mới xong mấy chục cái bánh. Đến chiều, mẹ chụm bếp nấu bánh. Ba mẹ thức cả đêm canh lửa. Gần sáng, mẹ đánh thức hai chị em chứng kiến “thời khắc lịch sử”: bánh chưng ra lò. Chị em Lê thích thú lôi ra giùm bánh cóc do chính tay mình gói lấy.
“Ôi nhớ xuân nào thuở trời yên vui
Nghe pháo Giao Thừa rộn ràng nơi nơi
Bên mái tranh nghèo ngồi quanh bếp hồng
Trông bánh chưng chờ trời sáng
Đỏ hây hây những đôi má đào”
Lê lại bật khóc nghĩ về gia đình ngày xưa…
Sân nhà Lê có gốc mai già. Năm nào cũng vậy, khoảng rằm tháng chạp, hai chị em bác ghế tuốt lá mai. Ba dặn rằng: năm nào lạnh thì tuốt sớm mấy hôm. Năm nào nóng tuốt muộn một tí thì mai sẽ nở đúng Tết. Nhưng còn phải căn nước tưới làm sao cho đến hôm “ông Táo chầu trời” (23 Tết) cả cây mai bung nụ xanh hết. Nhờ kinh nghiệm của ba, cụ mai già năm nào cũng nở hoa đúng Tết vàng ruộm cả một góc trời. Tết năm kia không hiểu sao mai nở trễ một tuần. Đúng năm đó gia đình tan rã.
Nếu con không về chắc mẹ buồn lắm
Mái tranh nghèo không người sửa sang
Khu vườn thiếu hoa vàng mừng xuân…”
Lê lại bật khóc. Những ai đã từng ăn Tết một mình mới thấy hết ý nghĩa hai tiếng GIA ĐÌNH.

 

SỨ ĐIỆP TÂN NIÊN

TRẦM THIÊN THU
Tết Dương Lịch 2017

Con Khỉ đã đi. Con Gà đã tới. Cuộc giao ban đã hoàn tất. Năm mới đã khởi đầu. Những cái khởi sự mới cũng đang bắt đầu: canh tân, chấn chỉnh, ước mơ, quyết tâm,…
Đây là 10 sứ điệp của các danh nhân nhắn nhủ với chúng ta trong năm mới này… Phải hành động ngay thôi!
ĐAM MÊ
Anthony Robbins nói: “Không có sự vĩ đại nếu không có niềm đam mê lớn, niềm đam mê đó tạo nên tên tuổi các nghệ sĩ, vận động viên, khoa học gia, người cha, người mẹ, doanh nhân,…”. Thật vậy, muốn đạt tới sự vĩ đại, bạn phải yêu thích chính những gì bạn làm. Ngay cả thập giá cũng vậy, không đam mê không vác nổi đâu!
MƠ ƯỚC
Johann Wolfgang von Goethe nói: “Bất cứ điều gì bạn có thể làm hoặc muốn làm, hãy bắt đầu ngay. Can đảm có tố chất thiên tài, sự kỳ diệu và sức mạnh”. Cứ ngại, cứ sợ, chẳng bao giờ làm được gì. Dám làm là tự tin, dám làm là yếu tố dẫn tới thành công, hãy dám làm những gì bạn mơ ước và phải khéo léo vận dụng.
HÀNH TRÌNH
Henry Boyle nói: “Hành trình quan trọng nhất trong đời bạn là gặp gỡ người khác trên đường đi”. Gặp gỡ thân mật với nụ cười chứ không chỉ nhìn nhau rồi thôi. Yêu thương khởi đầu từ nụ cười, ánh mắt, rồi mới có thể hành động cụ thể. Cảm thông và hiểu người khác có thể tạo nên sự khác biệt.
TÌM QUÊN
Og Mandino nói: “Khi bạn sai lầm hoặc thất vọng, đừng quay lại nhìn nó quá lâu. Lỗi lầm là cách cuộc đời dạy chúng ta. Việc phạm sai lầm khác với việc đạt mục đích. Không ai hoàn toàn chiến thắng, thất bại là mẹ thành công, thất bại chỉ là một phần trong quá trình phát triển. Hãy quên đi các lỗi lầm. Làm sao bạn biết mình hữu hạn? Hãy đứng dậy và bước tới!”. Nhân vô thập toàn, không ai không sai lầm, chỉ có Thiên Chúa mới là Đấng chí thiện. Biết vậy không phải để ỷ lại mà để cố gắng sống tốt. Sai thì sửa, té ngã thì đứng dậy, đừng nằm lì ra đó!
TÔI LÀ TÔI
Steve Jobs nói: “Thời giờ có hạn, đừng lãng phí thời gian mà sống bằng cuộc đời của người khác. Đừng sập bẫy giáo điều – tức là sống theo suy nghĩ của người khác mà không dám là chính mình. Đừng lệ thuộc ý kiến của người khác mà đánh mất chính mình. Quan trọng nhất là hãy can đảm theo con tim mình và trực giác của mình. Đó là cách bạn thực sự muốn cho mình, mọi thứ khác là thứ cấp”. Dĩ nhiên chúng ta không bảo thủ hoặc coi thường ý kiến của người khác, nhưng đừng lệ thuộc người khác. Ý kiến của người khác cũng đa dạng, cần biết minh định rạch ròi, nếu yếu bóng vía thì bạn sẽ “qụy ngã” vì các tin đồn của các “bà tám” hoặc “ông tám”.
TIN TƯỞNG
Marie Curie nói: “Cuộc sống không dễ dàng đối với bất cứ ai. Vậy là sao? Chúng ta phải kiên trì và tự tin. Chúng ta phải tin rằng mình có tài về lĩnh vực nào đó, và chúng ta sẽ đạt được như lòng mong ước”. Cuộc đời không như tấm thảm êm đềm, mà luôn gập gềnh, khúc khuỷu. Đôi khi chúng ta cảm thấy mệt mỏi vì số kiếp lận đận. Nhưg không phải vậy, vì cụ Phan Bội Châu đã nói: “Ví phỏng đường đời bằng phẳng cả, anh hùng hào kiệt có hơn ai”. Những người có tên tuổi đều là những người đã chịu nhiều thất bại, đau khổ, họ hơn chúng ta vì họ có ý chí sắt thép. Thánh Phaolô đã chịu nhiều thử thách nhưng vẫn không đầu hàng trước số phận, lại còn “tự hào về những yếu đuối của mình” (2 Cr 11:1-33). Lòng tự tin của Thánh Phaolô là niềm tín thác vào Đức Giêsu Kitô.
CƠ HỘI
Oprah Winfrey nói: “Cuối năm không là kết thúc cũng không là khởi đầu, mà là tiếp tục với sự khôn ngoan từ kinh nghiệm thấm nhuần trong chúng ta. Chào đón năm mới, đó là cơ hội mới để chúng ta phấn đấu”. Hãy rút lấy các bài học quý giá từ kinh nghiệm, và hãy áp dụng các bài học “xương máu” đó trong năm mới này. Rút ra rồi đừng để đó hoặc than thân trách phận, hãy quyết tâm cố gắng làm tốt hơn năm cũ.
KHỞI ĐẦU
Mẹ Teresa Calcutta nói: “Hôm qua đã qua. Ngày mai chưa tới. Chúng ta chỉ có hôm nay. Hãy bắt đầu từ hôm nay”. Thời gian là của Chúa. Chúng ta không làm chủ thời gian nhưng được quyền quản lý thời gian. Thời gian hiện tại rất quý. Hãy tập trung vào hôm nay, đừng ủ rũ vì quá khứ và mơ mộng với tương lai. Có hôm qua mới có hôm nay, có hôm nay mới có ngày mai.
NÊN MỚI
Lão Tử nói: “Khi tôi cởi bỏ chính tôi, tôi trở nên cái tôi phải là”. Hãy tập trung vào con người mà bạn muốn trở nên, cứ trở nên dần dần, cứ từ từ, từng chút một. Đường gần hoặc xa không thành vấn đề, mà vấn đề là bạn có bước từng bước hay không. Chẳng ai có thể nhảy một cái là tới ngay nơi mình muốn đến. Chính những bước nhỏ lại có thể tạo nên hành trình dài. Kỳ lạ thật!
THỰC HIỆN
Mae Jemison nói: “Vị trí của bạn trong thế giới này là chính cuộc đời bạn. Hãy bước đi và làm những gì bạn có thể, hãy làm cho cuộc đời mình như bạn muốn”. Mỗi người phải chịu trách nhiệm về cuộc đời mình, chính cha mẹ hoặc người thân cũng không ai có thể giúp gì hơn. Dám làm thì dám chịu. Vả lại, Thánh Phêrô đã nói rõ: “Thiên Chúa là Đấng không vị nể ai, nhưng cứ theo công việc mỗi người mà xét xử” (1 Pr 1:17).
Theo ngũ hành, năm 2017 là năm Đinh Dậu, thuộc mệnh Hỏa. Nam là cung Khẩn Thủy, nữ là cung Cấn Thổ. Người tuổi Dậu thường cũng chính là con người thật của họ. Không có quá nhiều điều bí ẩn trong tính cách của con giáp này: họ không quá phức tạp, cũng chẳng quá sâu xa; nói đúng hơn họ rất thẳng thắn và cởi mở.
Đấy là nói theo quan niệm phàm nhân cho biết, cho vui thôi, đừng “nặng lòng” vì những điều vừa vớ vẩn vừa dớ dẩn. Khởi đầu năm mới, hãy ghi nhớ: “Đức Giêsu Kitô vẫn là một, hôm qua cũng như hôm nay, và như vậy mãi đến muôn đời” (Dt 13:8).
Cung Chúc Tân Xuân – Happy New Year .

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Ý cầu nguyện tháng 1/2018

 

 

1.  Cầu nguyện cho Đức Giám Mục Giáo phận nhân kỷ niệm 30 Năm hồng ân Linh Mục và 15 năm hồng ân Giám Mục của Ngài, ngày 02/01/2017.

2. Cầu nguyên cho chương trình năm Đồng Hành với Gia Đỉnh trẻ của Giáo Phận và Giáo Xứ gặt hái được những kết quả thiêng liêng tốt đẹp.

 

 
 
 

Lịch Lễ
LICH LE
Kỷ Yếu Giáo Xứ
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây